mat ong nguyen chat barrie tu dong cong inox tu dong cong xep inox tu dong chung cu 87 linh nam gia goc
Công đoàn - đoàn thanh niên
Sửa đổi, bổ sung đối tượng ưu của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy năm 2013
Thứ năm, 11 Tháng 7 2013

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục,

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư sửa đổi, bổ sung đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 24/2012/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 6 năm 2012, Thông tư số 03/2013/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 3 năm 2013 và Thông tư số 21/2013/ TT-BGDĐT ngày 18 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 7 của Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 3 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 24/2012/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 6 năm 2012, Thông tư số 03/2013/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 3 năm 2013 và Thông tư số 21/2013/ TT-BGDĐT ngày 18 tháng 6 năm 2013  của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung đối tượng ưu tiên quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 như sau:

a) Bổ sung đối tượng ưu tiên vào đối tượng 03, gồm:

“+ Bà mẹ Việt Nam anh hùng;

+ Người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945;

+ Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945;

+ Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học;

+ Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

+ Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

+ Người có công giúp đỡ cách mạng”.

b) Sửa đổi đối tượng ưu tiên “con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19/8/1945” thuộc đối tượng 04 thành “con của người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”.

c) Bổ sung đối tượng ưu tiên vào đối tượng 04, gồm:

“+ Con của Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến;

+ Con của người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;

+ Con của người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

+ Con của người có công giúp đỡ cách mạng”.

2. Bổ sung đối tượng ưu tiên vào điểm a khoản 2 Điều 7:

“Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến”.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 19 tháng 8 năm 2013.

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo
Thứ năm, 04 Tháng 10 2012

(Theo Lao động)

Đề tài khoa học cấp nhà nước “Các giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông” do nguyên Phó chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình làm chủ nhiệm đã đặt ra nhiều vấn đề nếu muốn nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông. Nhóm nghiên cứu khảo sát thu nhập của GV qua bảng lương cho thấy: Thu nhập bình quân từ lương và các phụ cấp theo lương trong khoảng từ 3 - 3,5 triệu đồng/tháng. 

Tính theo năm công tác thì lương GV sau 13 năm từ 3 - 3,5 triệu đồng/tháng, sau 25 năm từ 4,1 - 4,7 triệu đồng/tháng. GV mới ra trường ở cả 3 cấp học nhận mức lương trên dưới 2 triệu đồng/tháng. Với số lượng GV như hiện nay, chỉ khoảng 50% số GV các cấp có thâm niên dạy học từ 13 năm trở lên và được hưởng mức lương bình quân, 50% còn lại được hưởng dưới mức lương bình quân. 

Từ đó cho thấy, thu nhập từ lương và phụ cấp theo lương cho GV phổ thông không đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản về đời sống của bản thân và gia đình họ, nhất là ở các vùng đô thị. Khoảng trên 40% không muốn làm nghề sư phạm nếu được chọn lại ngành nghề vì lương quá thấp.

Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình chia sẻ: "Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo"

- Nguyên Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Bình cho rằng, vai trò của người thầy là căn cứ quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển giáo dục, nhưng cho đến nay, vấn đề giáo viên chưa một lần được giải quyết căn cơ, khiến cho tất cả những mong muốn đổi mới giáo dục đều không thực hiện được đến nơi đến chốn.
- Trở ngại lớn nhất trong việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông là thầy, cô giáo ở các trường phổ thông công lập gần như không còn động lực hoạt động nghề nghiệp vì thu nhập từ lương và phụ cấp do Nhà nước trả không đủ bảo đảm cho họ có cuộc sống tươm tất. Để tự cứu mình, nhiều giáo viên trường công ở các đô thị phải “dạy thêm”, dẫn đến dạy thêm tràn lan.
Trong khi đó, tình trạng xuống cấp về đạo đức và văn hóa trong xã hội gây nhiều tác động tiêu cực đến trường học mà ngay cả giáo viên cũng bị lây nhiễm. Do vậy, vị thế xã hội của nghề làm thầy lẫn người thầy bị hạ thấp trong thang giá trị xã hội.

Nếu đặt vấn đề tăng lương cho giáo viên, theo bà, tăng đến mức nào là phù hợp?
- Trong các kiến nghị, chúng tôi có nhấn mạnh vào việc sửa đổi chính sách lương, phụ cấp, đồng thời cải thiện điều kiện nghề nghiệp, đãi ngộ, mức sống đáp ứng được yêu cầu của nhà giáo và gia đình họ. Mức sống này phải được xác định là trên mức trung bình của xã hội. Về thu nhập cụ thể, theo tôi, những nước khác làm được thì ta cũng phải làm được. Như ở Phần Lan, giáo viên là nghề có thu nhập cao, Hàn Quốc cũng xác định thu nhập của nhà giáo ở mức cao...

Gần đây, Nhà nước đã cố gắng tăng thêm 30% phụ cấp cho giáo viên đứng lớp. Có thể chưa được như mong muốn, nhưng so với lương của hệ thống viên chức nhà nước nói chung là khá cao. Nếu tiếp tục đặt vấn đề tăng lương giáo viên, thì như thế nào là hợp lý, thưa bà?
- Có thời kỳ Nhà nước ta đã nêu ra vấn đề lương giáo viên phải cao nhất trong các ngành sự nghiệp. Như vậy, theo tôi, đã có lúc chúng ta thấy được vấn đề nhưng không thống nhất được quan điểm và sự thực là chưa giải quyết vấn đề. Muốn vị thế trong xã hội của thầy, cô giáo cao lên, muốn thầy, cô giáo gắn bó với nghề, muốn thu hút người giỏi làm nghề dạy học, thì phải trả lương cao cho thầy, cô giáo. Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo. Bây giờ nhiều thầy không gắn bó với nghề. Học sinh khá, giỏi không muốn vào học sư phạm. Như thế thì giáo dục làm sao có chất lượng? Cái gốc vấn đề là ở đấy! Hơn nữa, vấn đề đổi mới, hay cải cách giáo dục không chỉ tốt cho nhà trường mà sẽ nâng cao được cả văn hóa, đạo đức xã hội. Người giáo viên tốt thì con em chúng ta sẽ tốt hơn, xã hội tốt hơn.

Đã từng có ý kiến cho rằng nên có quỹ hỗ trợ dành cho giáo viên, huy động nguồn lực từ các tổ chức xã hội, các công ty, tập đoàn… Theo bà, vấn đề xã hội hóa trong việc tăng thu nhập cho giáo viên nên được nhìn nhận như thế nào?
- Xã hội hóa giáo dục trong giai đoạn này là chủ trương đúng. Tuy nhiên, tôi nhấn mạnh, đối với việc học tập của con em chúng ta, Nhà nước phải chịu trách nhiệm. Nhà nước có thể lo bằng nhiều cách, trong đó có biện pháp xã hội hóa, nhưng bằng cách gì thì Nhà nước vẫn phải đảm bảo, vẫn phải chịu trách nhiệm.

Có nên đặt ra vấn đề phân cấp giáo viên để phân cấp thu nhập hay không, thưa bà? Giáo viên giỏi, dù trẻ, nhưng phải có thu nhập cao hơn giáo viên bình thường khác?

-        Ở đây có hai vấn đề. Thứ nhất, thâm niên là đặc thù của nghề giáo, càng làm lâu trong nghề càng phải khuyến khích. Còn đối với người giỏi, ở đây phải đặt ra vấn đề bồi dưỡng thường xuyên nâng cao trình độ. Trình độ đến đâu đãi ngộ đến đó. Nhóm nghiên cứu chúng tôi đề xuất toàn bộ giáo viên phổ thông phải có trình độ từ đại học trở lên. Phải nâng trình độ giáo viên lên và xóa bỏ ngay quan điểm lạc hậu lớp thấp chỉ cần trình độ thấp. Đối với khoa học giáo dục hiện đại, những năm đầu của trẻ là giai đoạn hình thành nhân cách, tư duy. Vì vậy, bậc học càng thấp càng đòi hỏi ở người giáo viên nhiều hơn.

Theo bà, với tình trạng dạy thêm học thêm tràn lan như hiện nay, tăng lương có giải quyết được tình hình?
- Vấn đề dạy thêm học thêm hiện nay khó chống, nguyên nhân là người giáo viên phải làm thêm để có thu nhập đảm bảo đời sống. Vì vậy, dạy thêm rất khó cấm, và thực tế hiện nay là vẫn không thể chống được. Nếu giải quyết thỏa đáng đãi ngộ, lương bổng để giáo viên và gia đình có cuộc sống tươm tất, đàng hoàng thì theo tôi, không cần cấm đoán, giáo viên cũng sẽ không dạy thêm nữa.

Lực lượng giáo viên hiện nay đông, nguồn lực quốc gia có hạn. Vậy một lộ trình tăng lương sẽ như thế nào để cân đối, trong mối tương quan với bảng lương của các ngành nghề khác?
- Trước mắt hãy cứ thực hiện công bằng, tính đủ lao động cho người thầy. Công chức, viên chức làm việc 8h/ngày. Người thầy ngoài giờ lên lớp còn phải chấm bài, soạn giáo án... Ở các thành phố lớn, giáo viên không chỉ dạy một lớp 35 học sinh như quy định, mà số lượng học sinh phải phụ trách có khi lên tới 50 - 60 em. Vậy hãy tính đủ sức lao động cho họ. Chưa cần nói gì đến việc ưu ái hơn nhưng trước mắt cứ tính cho công bằng đã. Cũng cần thiết phải cải cách quản lý, phải làm sao để người giáo viên làm việc có mức độ vì họ còn gia đình, cuộc sống riêng. Hãy làm tốt những vấn đề Nhà nước đã đặt ra như thâm niên, phụ cấp dạy thêm giờ, sĩ số lớp... Rồi sau đó hãy đặt tới vấn đề đưa lương của giáo viên đứng đầu trong bảng lương sự nghiệp.

Nhân dịp Đảng đang thực hiện việc thi hành Nghị quyết IV T.Ư khóa XI sẽ bàn về đổi mới trong giáo dục, bà có kỳ vọng gì vào cuộc họp lần này?
- Thật sự tôi muốn một cuộc “cải cách”, chứ không chỉ dừng ở “đổi mới” trong giáo dục. Tôi hy vọng những người lãnh đạo ngành có quan điểm, nhận thức đúng mức, quyết tâm thực hiện những điều mình nêu ra. Tất nhiên, không thể một lúc mà đề ra hết được mọi vấn đề. Nhưng tôi mong rằng, với mục tiêu đã có, với quan điểm đúng, kỳ họp sẽ chỉ ra được những giải pháp quan trọng nhất trong công cuộc đổi mới, trong đó có vấn đề người thầy.

- Xin cảm ơn bà!

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Sức sống của Hát ru trong Văn hóa người Việt
Thứ ba, 11 Tháng 9 2012

Từ xa xưa, hát ru đã là một tài sản quý, một món ăn tinh thần không thể thiếu đối với mỗi người Việt Nam. Lời ru mang âm nhạc vào trong giấc ngủ của trẻ khiến cho trẻ dễ ngủ và ngủ sâu giấc hơn. Lời ru mang tiếng Việt vào tiềm thức của trẻ giúp trẻ sớm biết nói. Lời ru mang thế giới xung quanh vào trong nhận thức của trẻ giúp trẻ hình thành những quan điểm ban đầu về thế giới. Chẳng hạn như: “Con quạ có đuôi, đòn gánh có mấu, châu chấu có chân, bồ quân có rễ, cây khế có lá, con cá có vây,…”. Lời ru là sợi dây gắn bó yêu thương giữa người lớn và đứa trẻ, giúp trẻ cảm nhận được hơi ấm của tình người. Thông qua hát ru, người lớn sẽ truyền lại cho trẻ những giá trị văn hoá tinh thần vô giá mà cộng đồng đã đúc kết được. Những giá trị ấy gắn liền với quá trình lao động sản xuất, dựng nước và giữ nước của dân tộc: “Ru con con ngủ cho lành, để mẹ gánh nước rửa bành ông voi. Muốn coi lên núi mà con, coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.

Rất khó có thể kết luận hát ru có trước hay ca dao có trước nhưng có thể dễ dàng nhận thấy: hát ru có gắn bó với ca dao, ca dao gắn với các hoạt động văn hoá tinh thần, lao động sản xuất của cộng đồng người Việt. Một đứa trẻ được sống trong không gian của hát ru sẽ cảm nhận được giá trị sâu sắc của văn hoá Việt- một nền văn hoá coi trọng tổ tiên, coi trọng tình người. Đứa trẻ đó sẽ kế thừa những phẩm chất tốt đẹp của tâm hồn người Việt - đôn hậu, thuỷ chung, dung dị mà sâu sắc: “Có rửa thì rửa chân tay, chớ rửa lông mày chết cá ao anh”.

Với những giá trị to lớn như vậy thì hát ru không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt, nhất là đối với trẻ nhỏ. Tuy nhiên, hiện nay hát ru chưa được quan tâm đúng mức. Người Việt ngày càng xao lãng hát ru. Các bà mẹ trẻ thường không chọn hát ru để ru con ngủ mà thay bằng các bài nhạc trẻ, những bản nhạc nước ngoài. Một cách vô tình hay cố ý, người lớn đã làm cho con trẻ tiếp xúc với cách suy nghĩ và thói quen của mình quá sớm. Ngoài ra, thái độ thờ ơ với nhu cầu xúc cảm của trẻ, những toan tính thường nhật của người lớn cùng với việc thiếu kĩ năng cần thiết của các bậc cha mẹ đã làm “xói mòn” giá trị tinh thần của trẻ.

Đứng trước hiện trạng đó, các bậc cha mẹ đã làm gì? Có thể nói nếu không buông xuôi thì cũng phản ứng một cách tiêu cực. Có bà mẹ đã than: “Con tôi ở nhà thì ngoan mà ra Mẫu giáo thì hư. Thế này thì tôi sẽ không cho cháu ra Mẫu giáo nữa”. Cách suy nghĩ như vậy là chưa thoả đáng bởi trường Mầm non không quản lí và giáo dục trẻ trong suốt thời gian của một ngày, một tuần. Trẻ có không gian riêng, có thế giới riêng của mình. Ngoài tình thương của các cô giáo dành cho trẻ, trẻ cũng cần sự quan tâm, tình yêu thương của ông bà, cha mẹ và những người xung quanh. Nếu người lớn chia sẻ với trẻ, vỗ về nâng giấc ngủ cho trẻ thì đó là một điểm tựa vững chắc cho sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của trẻ.

Qua tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, số lượng ông bố/ bà mẹ trẻ biết hát ru là rất ít và thật là hiếm hoi khi có ông bố/ bà mẹ trẻ nào thường xuyên hát ru cho trẻ. Hàng ngày với bao nhiêu công việc phải lo toan thì thời gian đâu để cha mẹ vui chơi với trẻ. Thời gian vui chơi với trẻ đã ít thì thời gian hát ru trẻ lại càng hiếm. Nếu ai đó muốn hát cho trẻ vài câu hát ru thì cũng khó bởi bản thân họ không biết hát. Hầu hết ông bố/ bà mẹ thiếu kĩ năng chăm sóc trẻ trong đó có khả năng hát ru.

Không chỉ cha mẹ thiếu khả năng hát ru mà bản thân giáo viên Mầm non cũng hạn chế về khả năng này. Giáo sinh Mầm non không được giảng dạy về hát ru. Hát ru chỉ được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua con đường truyền miệng và bắt chước. Một khi giáo viên Mầm non không được đào tạo một cách cơ bản về hát ru thì đa số họ không thể cảm nhận được giá trị to lớn của hát ru và như vậy họ cũng không thể thể hiện được.

Người ta vẫn nói: “Khoa học và công nghệ là trụ cột cho sự phát triển” nhưng “Văn hóa là nền móng để nâng đỡ những trụ cột ấy”. Và hát ru là một sự khởi đầu sống động để xây dựng nền móng ấy. Để phát huy giá trị của hát ru cần sự quan tâm của toàn xã hội, đổi mới chương trình Giáo dục Mầm non, đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục trẻ. Và trước hết, hãy bắt đầu từ các bà mẹ trẻ, từ các cô giáo Mầm non.

ThS. Trần Văn Thành

Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Giáo viên tiếng Anh khó chạm chuẩn quốc tế?
Thứ hai, 13 Tháng 8 2012

Mới đây, nhiều người sau đợt khảo sát trình độ tiếng Anh thấy hụt hẫng vì chỉ mỗi giáo viên tiếng Anh bị đem ra khảo sát trình độ. Kết quả thi chỉ có một số lãnh đạo ở sở GD-ĐT và hiệu trưởng biết, tuy nhiên, đó vẫn là áp lực nếu lần sau họ không đạt yêu cầu.

Không dễ

Cô Hồng Hạnh, giáo viên tiếng Anh Trường tiểu học Cát Linh, Hà Nội vừa đạt chuẩn B2 sau đợt học tập trung liên tục 3 tháng trong kế hoạch bồi dưỡng tiếng Anh của Sở GD-ĐT Hà Nội. Cô Hạnh là một trong số những người may mắn vì trước đó, cô đã được tham gia rất nhiều những khóa học bổ ích để nâng cao trình độ tiếng Anh, bao gồm cả đi nước ngoài.

Khi tham gia lớp tập huấn này, cô Hạnh đã đạt trình độ B1. Sau tập huấn, cô Hạnh và hầu hết các đồng nghiệp đã đạt trình độ B2 nhưng đồng thời họ cũng thừa nhận: phải rất vất vả và được thầy cô giáo giúp đỡ rất nhiều “bí kíp” luyện thi, họ mới có trình độ vững vàng.

Một giáo viên dạy tiếng Anh bậc THPT ở TP.HCM cho biết, việc giáo viên tiểu học và THCS thi chứng chỉ FCE (First Certificate in English) của ĐH Cambridge trình độ tương đương 6.0 IELTS là một điều không mấy khó khăn, tuy nhiên với giáo viên THPT mà phải đạt trình độ tương đương 7.5 IELTS là một điều không đơn giản, đặc biệt là giáo viên lớn tuổi.

Nếu vừa tốt nghiệp đại học chuyên ngành tiếng Anh ra trường thì thi các chứng chỉ này tương đối dễ dàng. Nhưng đã đi dạy lâu rồi, một số kiến thức và từ vựng không dùng đến cũng mai một đi. Đi thi một loại chứng chỉ nào cũng phải dành thời gian ôn luyện theo kiểu thi của chứng chỉ đó, cho nên, phần lớn giáo viên thời gian qua thi không đạt là điều dễ hiểu.

Cô Dung, giáo viên trường tiểu học Thành Công B, Hà Nội đã đứng lớp gần 20 năm cho biết, bản thân cô đang dạy chương trình Let’Go, hàng năm được tham gia tập huấn chương trình này nhiều lần, nhưng để đạt được trình độ B1, cô cần một thời gian học tập thật sự nghiêm túc.

Giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học ở Quận 11 (TP.HCM) cho biết: Trong tháng 7, giáo viên trường lại có đợt thi lần một để lấy chứng chỉ FCE. Cô chưa thi chứng chỉ quốc tế lần nào nên cũng có chút áp lực, bởi vì những kiến thức tích lũy được trong quá trình còn đi học chưa thật sự thích hợp trong giao tiếp tiếng Anh. Theo ý kiến của giáo viên này, nếu dạy tiểu học thì không cần thiết phải thi FCE, vì kiến thức tiểu học cũng đơn giản.

Có nhất thiết tất cả phải đạt chuẩn quốc tế?

Thầy Hoàng Ngọc Hùng, giáo viên đội tuyển Anh của trường Phổ thông năng khiếu (ĐHQG TP.HCM), người đã đào tạo nhiều học sinh giỏi Anh văn quốc gia cho biết: Tôi rất băn khoăn mục tiêu của Đề án ngoại ngữ đến 2020. Có nhất thiết bắt buộc tất cả giáo viên dạy ngoại ngữ phải đạt chuẩn quốc tế hay không, khi mà nhiều điều kiện cho ngoại ngữ phát triển ở Việt Nam, nhất là tiếng Anh chưa đáp ứng được.

Chẳng hạn, để tiếng Anh phát triển người dân phải có điều kiện sống trong môi trường nói và viết tiếng Anh nhiều hơn. Hãy thử tưởng tượng, các em HS ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa, có khi cả đời không gặp một người nước ngoài, vậy thì có nhất thiết và có thể dùng tiếng Anh chuẩn?

Chúng ta liệu có thể có một tờ báo tiếng Anh cho mọi HS và giáo viên đọc, hay một kênh truyền hình tiếng Anh để phổ cập, hoặc sử dụng nhiều văn bản, giấy tờ chính thống có thêm tiếng Anh như nhiều nước khác? Cho nên, tôi thấy mục tiêu này xa vời và có vẻ xa xỉ trong điều kiện Việt Nam.

Theo thầy Hùng, việc chuẩn hoá trình độ ngoại ngữ phải làm từ từ từng bước một, trước mắt với chính giảng viên dạy ngoại ngữ của các trường sư phạm, các trường ĐH ngoại ngữ trước, thực hiện chuẩn hoá quốc tế với những giáo viên trẻ, với những thành phố phát triển, chứ không phải đồng loạt như hiện nay, tạo ra áp lực nặng nề không đáng có.

Trên trang web của một Khoa trực thuộc ĐHQG Hà Nội có công khai danh sách giáo viên chưa đạt chuẩn B2, C1. Theo danh sách giáo viên kiểm tra sát hạch trình độ tiếng Anh ngày 28/5/2011, trong tổng số 27 giảng viên, có tới 15 giảng viên chưa đạt chuẩn B2, C1. Nếu bắt giáo viên đang đi dạy phổ thông phải đạt chuẩn quốc tế trong khi chưa có gì đảm bảo rằng, những giảng viên ĐH từng đào tạo họ chưa chắc đạt chuẩn quốc tế thì có mất công bằng?

Các giáo viên tiếng Anh cho biết, khảo sát năng lực giáo viên dạy ngoại ngữ phải được đặt trong tổng thể, đằng này, chỉ đòi hỏi giáo viên ngoại ngữ phải đạt chuẩn quốc tế, đặc biệt ở những vùng còn khó khăn đã tạo ra sự mất hài hoà trong môi trường giáo dục, gây căng thẳng cho giáo viên dạy ngoại ngữ.

Theo đại diện cơ quan khảo thí Cambridge tại Việt Nam, tỉ lệ người Việt Nam đỗ chứng chỉ FCE) vào năm 2011 chỉ có 47% (tức là cứ 100 người thi chứng chỉ FCE thì mới có 47 người đạt yêu cầu), trong khi đó tỉ lệ đỗ FCE của toàn cầu là 98%. Do vậy, 97% giáo viên THPT, 93% giáo viên tiểu học, THCS ở 30 tỉnh thành làm bài kiểm tra không đạt mức chuẩn B2, C1 như vừa qua là điều dễ hiểu.

Hương Giang- Nguyễn Hường- Nguyễn Mai (VietNamNet)

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Mùa xuân của những nhà khoa học trẻ
Thứ năm, 21 Tháng 6 2012

Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá, sự nghiệp Giáo dục- Đào tạo, Khoa học- Công nghệ được ưu tiên hàng đầu. Thấm nhuần đường lối đó, thực hiện mục tiêu đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội, Trường CĐSP Hà Nam đang đẩy mạnh nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học.

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Xem thêm
Báo cáo của Ban chấp hành Đảng bộ trường CĐSP Hà Nam nhiệm kỳ 2005-2010 tại Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2010-2015
Thứ tư, 20 Tháng 6 2012

Đại hội Đảng bộ trường CĐSP Hà Nam lần thứ XV nhiệm kì 2010 – 2015 diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa quan trọng đối với giáo dục đại học Việt Nam trong đó có trường CĐSP Hà Nam. Giáo dục đại học Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và phát triển.

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Xem thêm
Ảnh Đại hội các chi Đoàn TNCS HCM khoa Xã hội
Thứ tư, 20 Tháng 6 2012
ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Xem thêm
Công đoàn cơ sở
Thứ ba, 19 Tháng 6 2012

Công đoàn cơ sở liên tục được công nhận là Công đoàn cơ sở vững mạnh được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Bằng khen năm học 1997 - 1998. Liên đoàn Lao động Tỉnh tặng cờ năm học 1999 - 2000, 2001 - 2002, 2002 - 2003, 2003 - 2004, 2004 - 2005, 2005 – 2006; 2006 - 2007

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Xem thêm
Đảng bộ
Thứ ba, 19 Tháng 6 2012

Đảng bộ được công nhận là Đảng bộ cơ sở trong sạch vững mạnh liên tục từ 1997 đến 2007.Năm 2006 được Thường vụ Tỉnh uỷ Hà Nam tặng Bằng khen về thành tích 5 năm liên tục là cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh tiêu biểu xuất sắc của tỉnh.

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
Xem thêm
Trang đầuLùi123TiếpTrang cuối
You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NAM

Đường Lý Thường Kiệt, Phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Điện thoại: 0351. 3.851.018- Fax: 0351.3.849.686 - Email: banbientap@cdhanam.edu.vn - Design by ITSolution

http://www.xemayvn.co/

http://www.xemayvn.co/2017/08/nhong-sen-dia-nhong-xich.html

http://hoavancodien.com/Hoa-Van-Co-Dien.html