mat ong nguyen chat barrie tu dong cong inox tu dong cong xep inox tu dong chung cu 87 linh nam gia goc

Khắc phục sự cố và sua chua dien nuoc cho cơ quan, trường học chuyên nghiệp và uy tín. Đơn vị sửa chữa điện nước được mọi người đánh giá cao

Lịch sử khoa học – “cây cầu” thân thiện cho người thầy
Thứ hai, 02 Tháng 3 2015

Lịch sử khoa học – “cây cầu” thân thiện cho người thầy

ThS. Trần Mạnh Hào(*)

Khoa Tự Nhiên, Trường CĐSP Hà Nam

Dẫn nhập

Dạy học vốn là việc giúp người học giải quyết vấn đề cuộc sống, những câu hỏi từ cuộc sống. Luật Giáo Dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” Điều này cũng được xem như mục đích công việc của người dạy học. Chất lượng đào tạo giáo viên vốn vẫn được đo bằng kiến thức chuyên ngành và phương pháp giảng dạy (hay còn gọi là kiến thức chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm). Từ thời J.A. Komenský – cha đẻ của giáo dục hiện đại, hai yếu tố đó được coi như “2 chân” của mỗi giáo viên. Thế nhưng, nhìn vào thực tế hiện nay, phương pháp giảng dạy của giáo viên nói chung, sinh viên sư phạm nói riêng còn có nhiều hạn chế. Biểu hiện là, trong các trường phổ thông không thiếu những giáo viên rất giỏi trong chuyên môn nhưng lại ngây ngô về các phương pháp của lĩnh vực đó. Mặc dù có nhiều lý do để nói rằng các giáo viên hiện nay không luôn được chuẩn bị tốt, chúng ta cũng biết nhiều về tầm quan trọng của việc dạy tốt và những gì mà những người thầy giỏi mang lại. Như J.J. Rousseau đã nói về biểu hiện của người thầy dạy giỏi: “Với một người thầy của khoa học, mỗi vấn đề cần được dẫn dắt nhiều hơn là dạy dỗ. Người thầy đó không được đưa ra các quy tắc mà phải làm cho các quy tắc được tìm ra.”

Bài viết dưới đây với mục đích đề ra một phương pháp tiếp cận tri thức - “cây cầu tri thức” cho học sinh trong quá trình học với người thầy, dưới sự soi rọi của tâm lí học và triết học, đó là sự lồng ghép nội dung lịch sử khoa học tương ứng môn học đặc biệt là trong các môn về khoa học tự nhiên ở cấp Tiểu học và Trung học cơ sở. Kiến thức khoa học vốn bị cho là khô khan sẽ trở nên gần gũi hơn khi được trang trí bởi lịch sử của chính nó. Lịch sử khoa học với tính chất không chỉ bao hàm các sự kiện lịch sử đơn thuần, nó thực sự là một bức tranh sinh động gây nhiều cảm xúc đối với người xem bởi những con người thật và hoạt động khoa học của họ. Bức tranh quá khứ sống động với tri thức khoa học làm điểm giữa sẽ là phương tiện thông tin đa năng để người dạy kết nối tới người học. Lịch sử đặt dấu ấn lên mỗi thời điểm của thực tại, tại mỗi kiến thức khoa học đều có lịch sử riêng của nó. Và đặc tính của lịch sử là nó thường gợi người ta đến với những sự kiện và cả những cảm xúc mà như G.Bachelard gọi là tri-thức-cảm-xúc. Phương châm dạy học hiện nay không còn là sự gượng ép mà thành sự lôi cuốn – sự lôi cuốn bởi cảm xúc từ tri thức.

 

Lịch sử khoa học - Công cụ nhận thức luận cho học sinh

Trước hết, dạy học có mục tiêu cao cả là giúp học sinh hình thành và phát triển mọi tiềm năng của mình, sáng tạo ra chính bản thân mình và mang lại cho các em hạnh phúc – niềm hạnh phúc từ việc thưởng thức vẻ đẹp của sự liên kết tri thức, vẻ đẹp từ bản thể tự nhiên-xã hội, vẻ đẹp của sự bất ngờ... Sự ngộ nhận về quá trình đạt được niềm vui sống, niềm vui học tập có thể vô tình giam hãm tinh thần đầy ánh sáng của trẻ thơ. Hiểu người học là yêu cầu tiên quyết để tránh những vô tình ấy. Ở đó, hoạt động tư duy của học sinh sẽ là mối quan tâm đầu tiên.

Sự liên kết giữa các nơ-ron thần kinh là cơ sở vật chất cho sự vận hành của tư duy gồm có quá trình hình thành khả năng liên tưởng trong tư duy. Thuyết liên tưởng là cơ sở triết học và tâm lí học của dạy tri thức, hình thành các tri thức bằng sự liên kết các cảm giác, các kinh nghiệm và phương pháp dạy học trực quan. Sự liên tưởng các cảm giác hay ý tưởng không chỉ hướng đến trí nhớ và hồi tưởng; theo J.S. Mill, sự liên tưởng còn hướng tới tưởng tượng và sự sáng tạo. Cơ sở của sự liên tưởng giữa các vấn đề thực tại được đặt tại dữ liệu của lịch sử, và nó cần một thứ xi-măng để liên kết, kiến tạo ra các ý tưởng mới đó là những xúc cảm có thể tìm được từ quá trình đi qua các điểm mốc lịch sử khoa học. Từ những nội dung học, người học liên kết, tổ hợp, cấu trúc các thông tin, các tri thức đó của mình theo các mối liên hệ nhất định. Lịch sử khoa học dường như sẽ đem lại các chất liệu đó, bởi lịch sử khoa học luôn tồn tại như một chỉnh thể rõ ràng và đôi khi rất thơ mộng!

Hoạt động tư duy lí luận vận hành như là quá trình thực nghiệm trong não bộ, diễn ra sự tái tạo với tất cả những hình thức phổ biến của sự vật cùng với sự ý niệm hóa mặt cơ bản của hoạt động sự vật – thực tiễn. I. Kant nói: “Chúng ta không thể tư duy về đường thẳng nếu không kẻ đường thẳng ở trong óc, không thể tư duy về đường tròn nếu không mô tả nó, không thể hình dung ba chiều của không gian nếu không từ một điểm kẻ ba đường thẳng lần lượt vuông góc nhau.” Lúc này mỗi kiến thức khoa học là/với những công cụ kí hiệu – kết tinh từ kinh nghiệm xã hội-lịch sử sẽ tạo nên một quá trình thực nghiệm trong trí óc. Đồng thời, giai đoạn tuổi này, nguồn năng lượng trong sáng đem lại khả năng cao để phát triển trí nhớ ý nghĩa, tư duy lô-gic trừu tượng. Mặt khác, sự thay đổi trong lĩnh vực động cơ của nhân cách cũng diễn ra cùng với động cơ học tập khiến cho chức năng tâm lí văn hóa cũng vận hành với các công cụ tâm lí; khi đó quá trình hình thành và phát triển các chức năng tâm lí văn hóa tiếp xúc với các điều kiện môi trường của cá nhân đó. Có thể thấy được rõ ràng sự tác động tích cực to lớn đến tư duy – tâm lý người học từ những giá trị của lịch sử nói chung và lịch sử khoa học nói riêng khi có sự tiếp cận nghệ thuật của người thầy.

Hành trình dạy học liên tục của người thầy đưa đến điều kiện theo dõi sự tịnh tiến của lịch sử khoa học. Thomas Kuhn nhìn lịch sử khoa học như là một chuỗi những cách mạng có tính khoa học. Những hệ hình mới được thiết lập nhưng không phải tất cả những gì thuộc hệ hình cũ bị xóa bỏ - vẫn còn sự tồn tại của những giá trị xứng đáng trong phạm vi chừng mực của nó. Đặc biệt, những tồn tại đó của hệ hình cũ vẫn mang tính lịch sử của nó, và nó gắn liền với những sự kiện, con người đã từng làm nên lịch sử khoa học. Đối với học sinh – những tinh thần khoa học đang lớn, sẽ có nhiều điều chắt lọc từ hệ hình cũ ngoài chính nội dung của nó; bởi quá trình xây dựng bất kỳ một hệ hình nào cũng là một thứ ánh sáng vĩnh hằng. Mặc dù mỗi hệ hình luôn tồn tại những chướng ngại nhận thức được nhận biết qua lịch sử khai triển của tinh thần khoa học cũng như qua thực tiễn giáo dục. Việc đánh đổ những chướng ngại nhận thức mà đời sống thường nhật chất chồng trong đầu rất cần sự thay đổi văn hóa thực nghiệm. Sự đánh đổ và thay đổi đó có thể được chuẩn bị bằng cách nhìn lại những gì đã diễn ra trong hệ hình cũ và hệ hình hiện tại như một sự soi chiếu – phản tư.

Kiến thiết một tinh thần khoa học cho học sinh

Sự phong phú thực sự về tinh thần của cá nhân là hoàn toàn phụ thuộc vào sự phong phú của những liên hệ hiện thực của họ. Tất cả những yếu tố của năng lượng tinh thần và chuẩn bị cho một sự điều hòa tri-thức-cảm-xúc là tối cần thiết cho tiến bộ của tinh thần khoa học. Tuổi học sinh diễn ra sự tăng tiến của sức lực vượt quá sự tăng tiến của nhu cầu. Kế bên hoạt động gia tăng của thân thể tìm cách để phát triển, là hoạt động của trí óc, tìm cách học hỏi. Mới đầu trẻ em chỉ hiếu động, sau đó chúng hiếu kỳ; và lòng hiếu kỳ được điều khiển đúng đắn là động cơ của lứa tuổi mà giờ đây chúng ta đạt tới. Bên cạnh một nhiệt tình hiểu biết chỉ dựa trên ham muốn được đánh giá là thông thái; có một nhiệt tình khác nảy sinh từ lòng hiếu kỳ tự nhiên ở con người đối với tất cả những gì có thể có quan hệ gần hay xa với mình. Đó là căn nguyên đầu tiên của lòng hiếu kỳ; căn nguyên tự nhiên đối với tâm hồn con người, nhưng sự phát triển lại chỉ diễn ra tương xứng với các đam mê và các tri thức sẵn có. Người dạy hãy làm cho học trò của mình chú ý đến các hiện tượng của tự nhiên-xã hội, chẳng bao lâu người thầy sẽ làm cho nó thành hiếu kỳ, nhưng để nuôi dưỡng lòng hiếu kỳ của học trò, người dạy đừng bao giờ vội vã thỏa mãn lòng hiếu kỳ ấy. Hãy đặt ra những vấn đề vừa sức nó, và hãy để nó tự giải quyết vấn đề đó. Sao cho nó hiểu biết điều gì cũng không phải do người khác đã bảo nó, mà vì nó tự hiểu lấy, sao cho nó đừng học khoa học, mà tìm ra khoa học. Nếu có khi nào người thầy thay thế lý trí bằng quyền uy trong đầu óc nó, thì nó không lý luận nữa, nó sẽ chỉ là món đồ chơi cho ý kiến kẻ khác.

Sự ảnh hưởng đối với học sinh từ người thầy luôn trở nên lớn lao trong nền văn hóa giáo dục của nước ta. Một người thầy thì không có cái ý thức về thất bại, chính bởi người ấy tự cho mình là thầy. Người dạy học cũng là người ra lệnh. Từ đó tuôn trào một dòng chảy bản năng – một sức nặng bản năng nơi thầy giáo.

Kinh nghiệm sơ khởi, hay để nói chính xác hơn, sự quan sát sơ khởi, luôn luôn là một chướng ngại đầu tiên cho văn hóa khoa học. Điều cần thiết là tư duy phải tách rời khỏi chủ nghĩa kinh nghiệm trực quan. Do đó, một bức tranh mang tính lịch sử (hay bức tranh về lịch sử khoa học) không những mang lại sự quan sát có khoảng cách [tâm lý] với cái đúng, cái đã đúng. Bức tranh này đem lại cho người học một cách nhìn khách quan hơn so với bức tranh được xây dựng trên niềm tin và lòng ngưỡng mộ, tôn kính đối với người thầy. Như vậy, người học có một khoảng cách an toàn với định kiến tri thức, đồng thời có nhiều lí do để vẽ thêm nhiều chi tiết hơn vào bức tranh lịch sử đó (bởi vì dẫu sao đó chỉ là bức tranh lịch sử khoa học nên cho phép học sinh cái khả năng, cái quyền để “thêm thắt, chấm kẻ” – sáng tạo) chứ  không phải một bức tranh được khắc trên đá, trên gỗ lim của người thầy.

Thay cho lời kết

Mục tiêu dạy học hiện nay cho thấy sự cần thiết của kỹ năng thực hành, kỹ năng nghề nghiệp đối với học sinh. Nhưng có lẽ đối với một cơ thể đang phát triển mạnh mẽ bên trong nội tâm và nội tố, thì sự cần thiết của thái độ, cảm xúc tốt đẹp về việc thực hành, thực hiện nghề nghiệp còn quan trọng hơn gấp nhiều lần. Với học sinh, không hẳn là chuyện định hướng về học nghề mà là những chuẩn bị cho học nghề. Họ cần nội lực hơn là kỹ thuật. Trong mục tiêu đó, việc hình thức hóa nội dung bằng lịch sử khoa học trong quá trình dạy học có chăng sẽ kiến thiết được những mầm sống khỏe mạnh và biểu tượng đẹp đẽ trong tâm khảm người học.

Tài liệu tham khảo chính

Gaston Bachelor, 2009. Sự hình thành tinh thần khoa học. Nxb Tri thức

Jean Jacques Rousseau, 2010. Emily hay là về giáo dục. Nxb Tri thức

Nguyễn Thị Minh Phượng, Phạm Thị Thúy, 2012. Cẩm nang phương pháp sư phạm. Nxb Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh

Thomas Kuhn, 2008. Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học. Nxb Tri thức

Vũ Trọng Ngọ, 2012. Cơ sở triết học và tâm lí học của đổi mới phương pháp dạy học trong trường phổ thông. Nxb Đại học Sư phạm.

 

(*)Lời Ban biên tập: Tác giả bài viết - ThS. Trần Mạnh Hào là người thường xuyên viết bài đăng trên các tạp chí khoa học có uy tín trong nước và là cộng tác viên tích cực của website: cdhanam.edu.vn. Bài viết này đã được đăng trên Tập san Khoa học - Giáo dục tại Trường Cao đẳng Hải Dương.

ban sofa tai tphcmsach nuoi day consach ky nang song
You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM HÀ NAM

Đường Lý Thường Kiệt, Phường Lê Hồng Phong, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Điện thoại: 0351. 3.851.018- Fax: 0351.3.849.686 - Email: banbientap@cdhanam.edu.vn - Design by ITSolution

http://www.xemayvn.co/

http://www.xemayvn.co/2017/08/nhong-sen-dia-nhong-xich.html

http://hoavancodien.com/Hoa-Van-Co-Dien.html